ĐOÀN NHẬT QUANG

Blog của Quang để ghi chép những điều mình hiểu.

Lịch Sử - Văn Hóa

Quá trình giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm

Lịch sử Nam tiến của người Việt vào vùng đất mới thuộc địa phận Quảng Nam ngày nay đã trải dài qua nhiều thế kỷ với các mốc 1306, 1402 và 1471. Theo nhận định của chúng tôi thì Quá trình giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm diễn ra trong khoảng 400 năm, lấy mốc từ năm 1402 khi nhà Hồ chính thức đưa dân vào khai khẩn vùng đất mới và mở ra một thời kỳ mới cho sự giao thoa làm hình thành nên bản sắc của “xứ Quảng” ngày nay đến năm 1802 là khi những người Chăm cuối cùng rời khỏi vùng đất này. Thời gian 400 năm ấy tuy là không quá dài đối với sự hình thành của một vùng đất nhưng cũng là một dòng chảy lịch sử không êm ả. Quá trình giao thoa văn hóa đã giúp hai dân tộc Việt – Chăm hòa nhập được với nhau.

Nếu nhìn kĩ vào từng giai đoạn ta sẽ thấy dòng chảy ấy không đều như đã nghỉ. Nó có những lúc dữ dội để chiếm hữu, lúc lại lắng để định hình, lúc thì nếp ăn, nếp ở, ngôn ngữ, phong tục thiên về Chàm, lúc thì chuyển hẳn sang Việt, lúc thì song song tồn tại kéo dài hàng trăm năm; lúc thì người Chàm cố công gìn giữ nếp sống cha ông, nhưng lại có lúc dường như họ đã nỗ lực, cố công quên đi gốc gác.”[1]

Xem trước các bài : Vương quốc Chămpa ở miền Trung Việt Nam đã hình thành và phát triển như thế nào

Vương quốc Chăm pa và những cuộc chiến tranh với Đại Việt trong lịch sử

400 năm là thời gian mà chúng tôi chọn là một giai đoạn mà sự gặp gỡ, hòa nhập và tiếp biến văn hóa, xã hội giữa hai dân tộc Việt – Chăm diễn ra mạnh mẽ nhất và cũng là khoảng thời gian đủ để tạo ra những thế hệ mang đặc trưng của một thứ bản sắc văn hóa giao thoa rõ rệt, không là Chăm mà cũng chẳng thuần Việt. Quá trình tiếp xúc trên luôn luôn vận động không ngừng nghỉ và có cả sự tranh đấu cũng như thỏa hiệp giữa hai dân tộc để dần tìm được tiếng nói chung và thống nhất trong cả văn hóa, phong tục sản xuất và đời sống.

Theo đánh giá của chúng tôi, quá trình giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm mang những đặc điểm rất riêng, đó là một quá trình tiếp xúc và đan xen kéo dài hàng trăm năm trời với sự cộng cư chung sống giữa hai dân tộc với hai nền văn hóa tư tưởng hoàn toàn khác nhau, và luôn có những cuộc chiến mang tính dân tộc, chính vì thế sự giao thoa văn hóa này không hề diễn ra một chiều theo kiểu người Việt đến rồi đem văn hóa của mình áp đặt bắt buộc người bản xứ phải theo mà luôn có sự tương tác qua lại, có lúc văn hóa Chăm nổi trội hơn nhưng cũng có lúc văn hóa Việt lại chi phối toàn bộ đời sống dân cư ở đây. Một đặc điểm dễ nhận thấy là sự giao thoa giữa hai dân tộc có một sự thuận lợi cơ bản là sự tiếp nhận nhiệt tình của người Chăm đối với người Việt chứ không hề có sự thù hận hay xem người Việt như quân cướp nước, hay chính xác hơn là không có sự căm hờn như người Việt luôn nung nấu trong tim trước sự xâm lăng của phong kiến phương Bắc.

Cuối cùng, đặc điểm nổi bật nhất trong 400 năm giao thoa và tiếp biến văn hóa của hai dân tộc Việt – Chăm trên đất Quảng Nam chính là việc dân tộc Đại Việt với tư thế của người đi ở cõi và chủ quản vùng đất mới đã luôn lấy văn hóa của mình làm trọng tâm cho sự giao thoa. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong sự hình thành bản sắc văn hóa Quảng Nam trên cơ sở giao thoa mà chúng ta sẽ nói đến ở phần sau. Bây giờ, bằng những tài liệu có được chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ những đặc điểm về sự giao thoa giữa hai dân tộc Việt – Chăm như đã nói ở trên.

Trước năm 1402, đã có một số lượng người Việt đến ở lại định cư lâu dài trên đất của người Chăm như đã nhắc đến trong nội dung quá trình di dân của người Việt. Số người Việt ở đây từ trước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó làm người dân Chămpa cảm thấy quen thuộc và không quá sợ hãi khi quân Đại Việt kéo vào qua các cuộc chiến tranh. Vậy nên có thể người Việt cảm thấy xa lạ hay kỳ thị người Chăm nhưng ngược lại người Chăm vẫn luôn có cảm giác gần gũi với người Việt nhiều hơn. Số lượng những người Việt có mặt ở vùng đất Chăm trong thời gian này có lẽ là không nhiều và việc họ bị đồng hóa theo văn hóa, phong tục hay tín ngưỡng của người Chăm là điều chắc chắn.

Sự giao thoa văn hóa giữa người Việt và người Chăm ở Quảng Nam diễn ra một cách cân bằng hơn có lẽ phải từ năm 1402. Hai ông vua họ Hồ là Quý Ly và Hán Thương đã ra lệnh và khuyến khích một bộ dân cư không nhỏ vào khai khẩn và quản lý vùng đất mới. Đưa dân vào để trông coi một vùng đất lạ lẫm chưa có ý định thần phục và rất dễ xảy ra bạo loạn chống đối thì ắt hẳn số dân ấy phải nhiều lắm, sao cho đủ để trấn áp người bản xứ khi cần thiết. Mà người Chăm ở lại vùng đất này sau năm 1402 chắc chắn cũng còn rất nhiều, Đại Việt sử ký toàn thư có chép : “Người Chiêm Thành nào đi thì cho đi. Người ở lại thì bổ làm quan”. Bổ nhiệm người Chăm làm quan ở lại làm quan cai trị dân Chăm đủ chứng tỏ dân Chăm ở lại rất đông nếu không muốn nói là chiếm đa số với người Việt vào Nam lúc bấy giờ, có vậy thì quan cai trị mới dựa vào số đông ủng hộ để làm tốt công việc quản lý của mình được.

Người Chăm vẫn là bộ phận dân cư chủ thể ở đất Quảng Nam trong giai đoạn này nhưng đã xuất hiện rất nhiều người Việt ở đây, sự cân bằng trong cơ cấu dân cư không còn chênh lệch nhiều như trước nữa và chính điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao thoa văn hóa của hai bộ phận người đông đảo tại đây. Sự giao thoa văn hóa đầu tiên này diễn ra trong vòng 5 năm từ 1402 đến 1407, trong giai đoạn này thì văn hóa Chăm vẫn còn mạnh mẽ lắm với số lượng người Chăm ở lại đông đúc hơn và dĩ nhiên nó cũng nổi trội hơn.

Quá trình giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm
Quá trình giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm

Nhưng người Việt với tư thế của người chiến thắng luôn xem văn hóa của mình là trọng tâm đã không để người bản địa lấn áp quá nhiều. Trong thời gian đầu mà hai dân tộc khác nhau cùng sống cộng cư như thế thì tất nhiên sẽ có sự đấu tranh rất nhiều về phong tục, văn hóa, tín ngưỡng nhưng đó sẽ là nền tảng để những con người nơi đây hiểu nhau hơn, từ đó sẽ dần dần có sự tiếp thu và tiếp biến văn hóa giữa hai dân tộc để trở thành một thứ văn hóa bản địa rất riêng.

Năm 1445, quân Đại Việt theo lệnh của vua Lê Nhân Tông đã đánh đuổi người Chăm đến tận thành Trà Bàn để thu lại đất cũ, bắt rất nhiều binh lính Chiêm Thành và cả vua của họ là Bí Cai đem về Thăng Long, sau đó tất cả số này đều được tha và trở về nước.

Đây là một sự kiện quan trọng trong lịch sử và cả trong sự giao thoa văn hóa nữa nhưng trước hết chúng ta hãy tìm hiểu về một giai đoạn từ năm 1407 cho đến 1445, trong khoảng thời gian 40 năm đó đã diễn ra những gì làm ảnh hưởng đến sự hình thành bản sắc của vùng đất Quảng Nam?

Năm 1407 đánh dấu sự kiện nhà Minh xâm lược thành công nước ta, nhà Hồ sụp đổ, người dân nước Việt lại phải chịu cảnh đô hộ của phong kiến phương Bắc. Người Chăm lúc này đã không bỏ qua cơ hội thế nước Đại Việt suy yếu mà cất quân lấy lại vùng đất trước đây của họ. Sự kiện này đã tạo điều kiện cho một bộ phận rất lớn người dân Chiêm Thành trở lại vùng đất Thuận Hóa và trở thành bộ phận cai trị thực quyền tại đây. Như vậy có thể nhận biết được cán cân văn hóa trong sự giao thoa giữa hai dân tộc Việt – Chăm lúc này đang nghiêng hẳn về phía người bản xứ.

Người Việt đã đến đất Quảng Nam trước đó có lẽ vẫn còn ở lại và chung sống bình thường với người Chăm như trước vì chính sách cai trị của người Chăm đối với người Việt di cư chắc hẳn cũng có phần dễ chịu hơn so với quân Minh xâm lược ở ngoài Bắc. Không có tài liệu nói về sự di cư vào Nam của người Việt trong thời gian này, mà nếu có thì cũng chỉ là một bộ phận những người dân trốn chạy khỏi sự kiểm soát tàn bạo của quân xâm lược của nhà Minh mà thôi.  Số lượng dân Việt di cư vào Nam không nhiều và tất nhiên họ cũng phải chịu sự cai trị của người Chăm trên vùng đất mới vào.

Cần phải nhấn mạnh một đặc điểm trong giai đoạn này là mặc dù người Chăm đã tái chiếm lại vùng đất Quảng Nam từ tay người Việt và đang là bộ phận người đông đúc hơn làm chủ nơi đây nhưng mối quan hệ giữa hai nền văn hóa lúc này vẫn là mối quan hệ giao thoa chứ không phải là đồng hóa như thời kỳ trước năm 1402 vì lúc này thành phần người Việt ở lại cũng còn rất nhiều mà người Chăm cũng chẳng còn xa lạ gì với phong tục tập quán của người Việt nữa.

Sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc lúc này là sự tương tác qua lại thông qua sự tiếp xúc trong đời sống hàng ngày của những người dân không màng đến chính trị hay sắc tộc. Tuy nhiên, sự tương tác này không diễn ra một cách êm thấm mà luôn có những sự đấu tranh rất gay gắt, thậm chí dẫn tới việc đổ máu hay đàn áp là không thể tránh khỏi.

Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự khác biệt về tín ngưỡng, tôn giáo hay phong tục tập quán của hai bên. Trong khi người Chăm theo đạo BàLaMôn và Islam Giáo (Hồi giáo) kiêng cử thịt bò, thịt heo và không uống rượu thì đối với người Việt đó là những thức ăn không thể thiếu trong đời sống hằng ngày. Giữa một bộ phận người thường hay cúng kiếng các thần Phật hay các Thánh Nho gia sống cùng những người tôn thờ Silva hay Thánh Ala thì sự chướng tai gai mắt, châm chích lẫn nhau là không thể tránh khỏi, mà xung đột có lẽ cũng từ đó mà ra. Theo chúng tôi nhận thấy, chính sự đấu tranh gay gắt nhưng có tiếp thu giao hoa giữa hai dân tộc này có thể là nguyên nhân dân đến sự hình thành bản sắc văn hóa của vùng đất Quảng Nam.

Khi mà dân tộc Chăm đang là chủ thể ở vùng đất Quảng Nam thì tất nhiên họ có sự áp đảo trong một số lĩnh vực nhất định của văn hóa và đời sống, điều này thể hiện qua tín ngưỡng hay ngôn ngữ chung của cả hai thành phần người. Tiếng Chăm tất nhiên phải là thứ ngôn ngữ chính trong giai đoạn này và người Việt khi giao tiếp xã hội chắc chắn phải học. 

Tiếng Chăm trở thành ngôn ngữ thứ hai của người Việt nhưng khi giao tiếp trong gia đình họ vẫn nói tiếng Việt và thực thi các phong tục của người Việt. Những người con dâu hay con rể là người Chăm khi về nhà cha mẹ người Việt thì cũng đều phải như vậy. Những cuộc hôn nhân giữa người Chăm và người Việt đã tạo ra một bộ phận không nhỏ người Chăm biết nói tiếng Việt và tất nhiên cũng có người Việt nói tiếng Chăm như vừa nêu trên.

Sự ảnh hưởng của văn hóa Chăm cũng thể hiện rõ qua việc đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Người Việt lúc bấy giờ chịu sự chi phối của ý thức hệ Nho gia, lấy đàn ông làm trọng tâm của xã hội, hạ thấp tư cách người phụ nữ. Tuy nhiên trong văn hóa gốc của người Việt thì tín ngưỡng thờ mẫu là yếu tố được đặt lên hàng đầu thể hiện qua các câu chuyện về nàng Man Nương, về bà chúa Liễu Hạnh…. Sự tiếp xúc với một dân tộc vẫn còn mang trong mình ý thức mẫu hệ đã đánh thức lại nguồn gốc văn hóa xa xôi của người Việt, dẫn đến việc tôn thờ Đạo Mẫu mà chúng ta sẽ cùng tìm hiểu ở phần sau.

Dấu ấn của sự giao thoa với lối sống cộng cư Việt – Chăm đã hình thành dần qua thời gian. Dân vùng này nhim tc cũ ca người Chiêm, tính hung hãn, quen kh s. Triu trước dùng hđể nga người Chiêm là phần thông luận được Lý Tử Tấn chép trong Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi khắc in năm 1435 đã miêu tả rõ rệt sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai dân tộc trong giai đoạn này.

Quá trình giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm
Quá trình giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm diễn ra không hề êm ả

Như vậy, giai đoạn 40 năm từ 1402 đến 1445 khi Đại Việt suy yếu và Chămpa phục hưng là một “đường ranh giới” cần thiết để những người Việt và người Chăm có đủ thời gian để làm quen, tìm hiểu và hòa nhập với nhau. Thời gian đó đủ để làm nảy sinh và dần hình thành nên một thứ bản sắc văn hóa mới ổn định nửa Chăm nửa Việt để người Việt vào sau khi bị bỡ ngỡ với vùng đất mới mà người Chăm ở lại cũng không quá khó chịu khi tiếp xúc với một làn sóng  dân Việt di cư đông đảo về sau.

Sau năm 1445, người Việt đã trở lại sống trên vùng đất Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa bình thường và có lẽ vùng đất này cũng tiếp thu một lượng người di cư mới mẽ nửa. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đánh đuổi người Chiêm qua khỏi vùng đất Phú Yên, vương triều cuối cùng của Chiêm Thành kết thúc, mở ra một thời kỳ mới cho sự giao thoa về mọi mặt của hai dân tộc Việt – Chăm trên đất Quảng Nam.

Cái mốc 1471 thực sự rất quan trọng vì nó đã chấm dứt hàng trăm năm trời chiến tranh, giằng co đất đai qua lại giữa Đại Việt và Chămpa trên đất Quảng Nam. Đây cũng là sự kiện đánh dấu sự di dân với quy mô rất lớn đến mức triều đình không thể kiểm soát nổi của những người Việt muốn vào Nam sinh sống. Ngoài số dân di cư để tìm đường sống thì đoàn người vào Nam còn nhiều thành phần khác nữa mà chúng tôi đã nói đến. Những thành phần dân cư đa dạng này khi vào sinh sống ở vùng Quảng Nam sẽ góp phần làm nên sự phong phú của đời sống ở đây và làm cho bản sắc văn hóa mới hình thành của vùng này càng thêm phát trước hơn.

Bây giờ chúng ta thử phân tích về số lượng người Chăm còn ở lại sau cuộc chiến năm 1741, những người ở lại này là yếu tố then chốt cho sự giao thoa văn hóa Việt – Chăm tiếp tục diễn ra. Sau khi quân Đại Việt đánh vào, một bộ phận rất lớn người Chăm đã bỏ chạy vào Nam, nhưng sẽ không phải là tất cả. Ở đây chúng tôi đưa ra một số đặc điểm để khẳng định rằng vẫn còn rất nhiều người Chàm ở lại sau năm 1471.

Trước hết, khi quân Việt đánh vào Quảng Nam là đánh vào vùng trung tâm, nơi có các cơ sở chính trị, người Chăm ở đây phải sơ tán là điều dễ hiểu, nhưng bên cạnh đó những người Chăm ở xa hơn, như vùng Đại Lộc chẳng hạn, họ không có lý do phải bỏ chạy khỏi nơi mà họ đã gắng bó từ bao đời.

Thứ hai, đã có một bộ phận người Chăm gắn kết chặt chẽ với người Việt từ trước thông qua các cuộc hôn nhân để tạo ra thế hệ con lai về sau, dòng họ của những người Chăm thông gia với người Việt này nhiều khả năng sẽ được người Việt bảo vệ che chở, vì vậy họ không cần phải tháo chạy vào Nam.

Thứ ba, vùng đất phía trong từ Nam đèo Cả trở vô là vùng đất khô cằn và khí hậu cũng rất khắc nghiệt, vì thế những người dân Chăm thuần nông vốn không liên quan đến chính trị cũng không muốn rời bỏ vùng đất màu mỡ của vùng Quảng Nam để vào trong. Hơn nữa, đất Quảng Nam còn là nơi có các Thánh địa tôn giáo quan trọng của dân tộc họ.

Với ba lý do nói trên, chúng tôi cho rằng vẫn còn không ít người Chăm ở lại sống cộng cư cùng người Việt nhưng số lượng ở lại là bao nhiêu thì thật khó để xác định. 100 năm sau khi Lê Thánh Tông bình Chiêm, sách Ô Châu Cn Lc đã miêu tả vùng đất Quảng Nam – Thừa Thiên như sau : Nói tiếng Chiêm có th dân làng La Giang, máo Chiêm có con gái làng Thy Bn, nhiu xã còn gi thói dâm phong mây mưa, thói quen c truyn cũng đã lâu lm[2]. Điều này cho thấy nhận định của chúng tôi về việc người Chăm ở lại với số lượng không nhỏ là có cơ sở.

Điều đáng nói là từ năm 1471 trở đi, văn hóa Việt đã là bộ phận nổi trội hơn và áp đảo hoàn toàn văn hóa Chăm. Ngôn ngữ chính trong giao tiếp xã hội giai đoạn này tất nhiên là tiếng Việt, nhưng là một thứ tiếng Việt rất lạ, một thứ tiếng Việt đã giao thoa. Người Chăm cũng bắt buộc phải học và nói tiếng Việt một cách thường xuyên hơn, và dĩ nhiên họ nói tiếng Việt theo cách của riêng họ, theo kiểu người nước ngoài nói tiếng Việt. Đó là một trong những chi tiết khá thú vị để tạo nên giọng nói đặc trưng của người Quảng. 

Người Việt tuy lúc này ở Quảng Nam rất đông đảo nhưng họ không thể dùng thứ văn hóa truyền thống của mình để cải hóa người Chăm mà phải tiếp thu một bản sắc văn hóa giao thoa mới  đã hình thành ở vùng này từ lâu, từ đó tiếp tục hòa nhập và phát triển bản sắc văn hóa ấy lên một tầm cao mới. Chính sự tiếp xúc và đan xen văn hóa qua nhiều thời kỳ, nhiều thế hệ như vậy đã tạo nên một xứ Quảng Nam đã văn hóa, đa chủng tộc.

Cũng cần phải khẳng định lại rằng, từ sau thất bại trước người Việt năm 1471 thì phần lớn người Chăm không bỏ chạy vào phía Nam nữa mà ở lại trên đất đai, ruộng vườn của họ, chấp nhận sống cộng cư với người Việt. Cuộc sống mới này diễn ra êm thấm, thuận lợi và nhìn chung là không xảy ra những tranh chấp gì lớn về đất đai vì ở vùng nay diện tích đất đai chưa khai phá còn rất nhiều.

Lại nói về những thành phần người di cư vào đất Quảng Nam để sinh sống ổn định lâu dài, trong số những hạng người như đã nói đến ở phần trước thì có thể chú ý đến thành phần những người lính bỏ quân ngũ là hạng thứ hai là những tội đồ của triều đình bị đày vào miền “ác địa” tận cùng này.

Đối với những người lính rời bỏ quân ngũ để hòa nhập cùng bộ phận dân sống cộng cư cùng người Chăm có thể bao gồm nhiều diện khác nhau, thành phần những người đào ngũ trốn lính để tìm kiếm sự bình yên thì không có gì đáng nói đến, mà số lượng những người như vậy chắc cũng không nhiều lắm.

Một thành phần quan trọng hơn bao gồm các tướng lĩnh, binh sĩ từng xông pha trận mạc với các cuộc viễn chinh để bình Chiêm, mở rộng đất đai, sau khi chiến thắng họ được giao nhiệm vụ ở lại để tổ chức trông coi và quản lý vùng đất mới. Họ có trách nhiệm là giữ ổn định vùng đất này trước sự nổi loạn và lăm le lấy lại đất cũ của những người Chăm ở lại và cũng tạo điều kiện cho những lớp dân cư đến sau có thể an cư lập nghiệp ở vùng đất này dễ dàng hơn.

Đây được xem là thành phần những người dũng cảm và có lòng yêu nước sâu sắc . Đó là những con người dám nghĩ dám làm và có thể tính cách cũng rất hung hãn và dữ dội nữa.

Một khi những người này dấn thân vào công cuộc khai phá vùng đất mới thì họ sẽ luôn là người tiên phong dũng cảm, luôn luôn đi đầu để lập nên những chiến công. “Nhiều người trong số họ đã trở thành những vị chỉ huy, người tổ chức công cuộc di dân, thiết lập làng, xã và về sau trở thành những vị tiền hiền được nhân dân lập đền thờ và cũng không ít trường hợp được triều đình phong kiến phong làm Thượng đẳng, trung đẳng thần…”[3]

Thành phần quan trọng thứ hai cần chú ý là những người tội nhân bị lưu đày.Trong số những người này, sẽ có những kẻ xấu xa, những thành phần bất hảo, phường gian dối trộm cướp…nhưng không phải vì thế mà cho rằng tất cả tội nhân đều là người xấu. Có những tội nhân là những người có tư tưởng mới, những thủ lĩnh của nông dân, vì không cam chịu sống dưới sự quản lý khắc nghiệt của chế độ phong kiến mà nổi dậy, sau đó bị bắt và bị đi đày. Trong tiềm thức của những con người này có lưu giữ những khả năng về nhiều mặt khác nhau như tổ chức và quản lý hành chính, kinh nghiệm khai hoang chiến đấu, ý tưởng lao động sản xuất sáng tạo hơn…Đó đều là những khả năng đem lại ích lợi lớn và trong hoàn cảnh mới họ có điều kiện để thi thố tài năng, đem lại sức sống mới mẽ cho vùng đất mới mẽ này.

Một đặc điểm thú vị nữa có lợi cho quá trình giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt Chăm mà hai bộ phận người này có thể đó là họ đều là nam giới, một khi vào sinh sống lâu dài ở vùng đất mới thì chắc chắn nhu cầu thành gia lập nghiệp,cưới vợ sinh con để duy trì nòi giống là không thể tránh khỏi. Và những người con gái Chăm sinh đẹp là đối tượng mà những người lính anh hùng này hướng tới cũng là điều có thể nghĩ đến được.

Một khi đã thành gia lập thất với người Chăm, với tư cách là người chủ gia đình, họ sẽ có quyền lực hơn trong việc hướng nếp ăn, nếp ở cũng như phong tục của vợ theo hướng lấy văn hóa Đại Việt làm trọng tâm, nhưng không vì thế mà họ ép buộc vợ phải hoàn toàn bỏ đi những nét văn hóa truyền thống của mình. Việc vợ chồng chịu tiếp thu những nét truyền thống riêng của hai dân tộc sao cho bảo đảm gia đình êm ấm chính là đầu mối cho quá trình giao thoa văn hóa diễn ra trong gia đình – cơ sở nguồn gốc của xã hội.

Bên cạnh hai thành phần trên, những sĩ phu Nho giáo, những thầy thuốc, thợ thủ công, thương nhân, những người có óc phiêu lưu bỏ vào Nam để xa lánh chiến tranh đã mang lại cho xã hội Đàng Trong nói chung và vùng đất Quảng Nam nói riêng một sự bổ sung về chất và góp phần giải quyết vấn đề khan hiếm lao động trí thức ở vùng đất mới. Những thành phần người di cư nói trên đã trở thành những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự phát triển của vùng đất Quảng Nam mới và thúc đẩy quá trình giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm nơi đây diễn ra nhanh chóng và chất lượng hơn.

Như vậy, trải qua một quá trình dài vừa tranh đấu, vừa tiếp thu, hòa hợp và tiếp biến, hai dân tộc Việt – Chăm không những không bài xích lẫn nhau mà ngược lại ngày càng một gần gũi nhau hơn.

Đó là cuộc sống của hai dân tộc trong cùng một dân tộc Việt Nam, trong quá trình sinh hoạt và sản xuất, họ đã cùng nhau đoàn kết, chia sẻ kinh nghiệm, giúp đỡ nhau trong mọi vấn đề. Cũng có lúc hai dân tộc ấy sôi trào giận dữ và ngoảnh mặt lại với nhau vì những lý do khác biệt về văn hóa và cách sống, nhưng sự thù hận ấy không kéo dài được lâu. Việt – Chăm lại như đôi nam nữ đang yêu nhau, có lúc mâu thuẫn cãi vã nhưng rồi lại duyên tình mặn thắm.

Họ – những con người của đất Quảng Nam, không phân biệt là Việt hay Chăm, đã cùng bắt tay nhau xây dựng vùng đất mà họ ở ngày càng tốt đẹp hơn. Chính sự dung hòa và quá trình giao thoa văn hóa của hai dân tộc ấy trong suốt chiều dài lịch sử đã tạo nên những giá trị văn hóa đặc sắc, góp vào kho tàng bản sắc văn hóa Việt Nam những giá trị quý báu không gì so sánh được.

Có thể nói quá trình giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm là sự gặp gỡ giữa hai nền văn minh Đông – Tây, là sự tiếp xúc giữa những đại diện ưu tú nhất của văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, nhưng sự gặp gỡ ấy không đem lại lợi ích gì cho hai quốc gia to lớn kia.Cũng không phải làm nên thành tựu của riêng dân tộc nào giữa hai phía Việt – Chăm. Nó chỉ làm giàu cho bản sắc văn hóa Việt Nam.

Nói như Litana :  Táđộng qua li phong phú này cui cùng đã cho ra đời mý thc v bn sc văn hóa Vit Nam, cm r sâu trong môi trường xã hi, văn hóa và t nhiên ca vùng đất mi phương Nam. Các di dân người Viđã b li phía sau nơi chon rau ct rn ca h và giđây thường phi sng thành nhng nhóm nh trong vùng đất ca người Chàm cũ, hn làđã cm thy nn văn hóa Chàm va có nhng néđẹp riêng va xa l khiến người ta phi e dè. Trong mt trng thái tâm lý bn, người Vit va b lôi cun nhưng đồng thi li cũng c gng tìm cách thoát khi (hay thu phc khi có th) nn văn hóa xa lđã cóđó trước khi hđến và thường là vn còn bao quanh h.[4]


[1] H Trung TúCó 500 năm như thế, Nxb Đà Nng 2012.

[2] Dương Văn An, Ô châu cận lục, NXB KHXH Hà Nội.

[3]…”Địa chí Qung Nam Đà Nng, chương 1, tr337, nxb Đà Nng 2010.

[4]Li Tana, Xứ Đàng Trong, nxb Trẻ 1999.

Đoàn Nhật Quang.

Trả lời

Giao diện bởi Anders Norén